 | | Hỗ trợ trực tuyến |
|
|
Trang chủ » Kiến thức thể thao » Lịch sử các môn Thể Thao » Đấu kiếm (fencing)
Đấu kiếm (fencing)
 10:20 26/12/2011
Bắt nguồn từ tiếng Đức :"fechten” – là đánh, đấu; môn thể thao đấu tay đôi trường kiếm (lưỡi thẳng hoặc lưỡi cong)...
I. Lịch sử phát triển: 1. Trên thế giới:
- Bắt nguồn từ tiếng Đức :"fechten” – là đánh, đấu; môn thể thao đấu tay đôi trường kiếm (lưỡi thẳng hoặc lưỡi cong).
- Theo các tác phẩm nghệ thuật cổ đại, Đấu kiếm có lẽ xuất hiện từ cách đây khoảng 4000 năm ở các nước như Ai Cập, Trung Quốc, Ấn Độ và Hi Lạp. Người Hi Lạp cho rằng đấu kiếm bắt đầu ra đời ở vùng Arcadia
Theo các nguồn tài liệu còn lưu lại, Ai Cập là nơi đấu kiếm ra đời đầu tiên, còn tại Trung Quốc, bộ môn này xuất hiện vào khoảng năm 2700-2200 trước Công Nguyên. Dưới thời đế chế La Mã, nô lệ và các tù nhân chiến tranh phải đấu kiếm để giành tự do. Về sau, vào thời Trung Cổ, các kiếm thủ mặc áo giáp che kín cả thân người. Đây cũng là thời kì các trường dậy đấu kiếm ra đời và bộ môn này nhanh chóng lan rộng một cách hệ thống trên toàn Châu Âu.
- Những quy định đầu tiên về bộ môn này ra đời năm 1474 , tại Tây Ban Nha. Năm 1530, cuốn sách đầu tiên miêu tả vị trí đứng của kiếm thủ, đường trượt, đường biên xuất hiện. Kiếm bịt đầu có từ thế kỉ 17, được coi là một vũ khí hạng nhẹ và loại kiếm này làm cho bài tập của VĐV trở nên thú vị hơn. Năm 1780, mặt nạ bắt đầu được đưa vào trang phục bắt buộc để bảo vệ khuôn mặt. Ngày đó, nhiều người cho rằng mặt nạ trong đấu kiếm là cái gì đó có vẻ quá nữ tính và có phần xúc phạm
Đến năm 1815, Đấu kiếm phát triển nhanh chóng đến mức người ta bắt đầu viết những giáo trình chi tiết vê bộ môn này. Người Italia, người Hungaria và người Pháp xây dựng các trường phái đấu kiếm riêng, hầu như không giống nhau. Trong một thời gian rất dài, mỗi nơi sáng tạo ra một kiểu đấu kiếm. Cho đến tận ngày nay, Italia, Pháp và Hugary vẫn là 3 cường quốc về bộ môn này.
- Đấu kiếm là một trong số 9 môn thể thao xuất hiện tại TVH hiện đại đầu tiên năm 1896. Kể từ đó, đấu kiếm liên tục được đưa vào nội dung thi đấu tại các kì TVH. Liên đoàn Đấu kiếm thế giới (International Fencing Federation (FIE) ) được thành lập ngày 29/11/1913. Từ năm 1920 đến 1936 một giải đấu kiếm mang tên ‘Championnats du Monde’ thường xuyên được tổ chức từ ngày 01-15/08 hàng năm với sự tham gia của các kiếm thủ đến từ rất nhiều nước
2. Tại Việt Nam
Đấu kiếm du nhập vào VN và tồn tại khoảng chừng hơn 10 năm nay ( tức là khoảng 1990). Việt Nam đã từng có VĐV tham dự môn này tại ASIAD 11 năm 1990. Môn đấu kiếm đầu tư rất tốn kém (một bộ trang phục thi đấu đạt tiêu chuẩn quốc tế ước chừng 1000USD) nên sau một thời gian có mặt tại Việt Nam, môn đấu kiếm đã bị tụt dốc. Hiện nay đầu năm 2001, Sở TDTT Hà Nội đang khôi phục lại hi vọng sẽ có mặt tại Sea Games 22
II. Khái niệm:
Đây là nội dung thi đấu đòi hỏi VĐV phải có khả năng thích ứng nhanh, tổ chức tốt và tính kiên nhẫn cao. Điều này có ở những kiếm thủ thực sự giỏi về nghệ thuật đấu kiếm. Một VĐV trước khi ra sân cần rất nhiều thời gian luyện tập với sự tập trung cao độ và kỉ luật Tính điểm: Điểm được tính qua sự ghi nhận các lần mũi kiếm chạm vào vùng mục tiêu tuỳ vào từng loại kiếm mà có vùng mục tiêu khác nhau. Đấu kiếm là môn thi đấu trong nhà. Kiếm thủ ghi điểm bằng cách đâm đối phương đồng thời tìm cách tránh bị đâm Kiếm bịt đầu, kiếm 3 cạnh và kiếm cong là 3 loại vũ khí dùng trong môn đấu kiếm, giành cho cả nam và nữ VĐV. Vùng tấn công cũng như hình dáng lưỡi của 3 loại kiếm này có phần khác nhau.
III.Các loại kiếm và vùng mục tiêu:
- Kiếm bịt đầu (Foil): là loại kiếm có trọng lượng nhỏ nhất so với 2 kiếm kia
Trọng lượng: xấp xỉ 500g (17.637 ounces) Lưỡi : 90cm (35.433 inches) Chiều dài kiếm: 110 cm (43.407 inches) Vùng tấn công: điểm chỉ được tính khi kiếm đâm vào thân mình đối phương, tính từ cổ áo xuống háng trước và phần hông sau (Với nội dung nữ, phần tấn công phía trước là từ cổ áo xuống hông). Đâm trúng vào cánh tay và chân không tính điểm. Trong quá trình thi đấu (từ khi trọng tài hô "bắt đầu" cho đến lúc " dừng"), kiếm thủ không được phép chống hoặc kéo rê mũi kiếm trên đường đấu. Trong mọi trường hợp, VĐV không được phép sửa vũ khí khi đang thi đấu khi chưa được trọng tài cho phép. Bên cạnh đó, tay không cầm kiếm của VĐV phải thu gọn sau lưng. Nếu đưa ra trước tay cầm kiếm, cú đâm bị coi là không hợp lệ
- Kiếm lưỡi cong (kiếm chém) (saber) : là biến thể của kiếm dành cho các kị binh ngày xưa. Ngày nay, chỉ các nữ kiếm thủ mới dùng loại kiếm này.
Trọng lượng: 500g (17.637 ounces) Chiều dài kiếm:105 cm (41.338 inches) Lưỡi kiếm: 88 cm (34.646 inches) Vùng tấn công: Các vùng mục tiêu là phần trên của cơ thể và hai cánh tay, tính từ hông lên. Các lần đâm trúng đích được tính điểm qua toàn bộ mép trước và 1/ 3 mép sau của kiếm. Kiếm thủ không được phép sửa kiếm trong quá trình thi đấu
- Kiếm mũi tù (3 cạnh) (epee)
Trọng lượng: 770 grams (27.16 ounces) Lưỡi: 90cm (35.433 inches) Chiều dài kiếm: 110 cm (43.407 inches) Vùng tấn công: gồm toàn bộ thân người, kể cả đầu, chân tay, quần áo. Chỉ được tính điểm nếu đâm bằng đầu mũi kiếm. Trong quá trình thi đấu (từ khi trọng tài hô "bắt đầu" cho đến lúc " dừng"), kiếm thủ không được phép chống hoặc kéo rê mũi kiếm trên đường đấu
III.Trang phục - Đường đấu:
- Trang phục:
- Kiếm thủ mặc trang phục màu trắng, đeo mặt nạ, găng tay, và giáp bảo vệ, mặc quần túm ống và đi một loại giầy đặc biệt. Riêng phụ nữ có thêm phần bảo vệ ngực dưới áo giáp - Trên áo trang phục của VĐV có gắn thiết bị tính điểm tự động. Thiết bị tính điểm tự động là một mạch điện 12V, giúp kiếm thủ và ban giám khảo đánh giá các cú đâm. Khi thiết bị này hiển thị màu, cú đâm được tính điểm. Ngược lại, đèn trắng có nghĩa cú đâm đã chạm vào vùng tấn công không hợp lệ.
- Đường đấu
- Dài: 14m - Rộng: 1,5m đến 2m - Đường đấu được ngăn đôi theo chiều ngang. Phần mở rộng từ đường biên đến mép sàn là 2m - Một lần lùi ra sau vùng thi đấu bị tính là một lần bị đâm.
IV.Luật thi đấu
- Diễn biến 1 trận đấu:
Trọng tài sẽ gọi tên VĐV và hô"chuẩn bị" ("en garde." ). VĐV đứng đối mặt nhau tại vị trí chuẩn bị cho đến khi trọng tài hô "bắt đầu" ("allez" or "fence.") Chỉ khi nào trọng tài hô"dừng" (halt.) trận đấu mới được ngừng lại. Hiệu lệnh này xuất hiện khi: - Người giám sát hoặc thiết bị báo cho biết VĐV đã thực hiện một cú đâm - Một VĐV bị rơi vũ khí. - VĐV mắc lỗi - Khi VĐV có hành động gây nguy hiểm cho đối phương Sau khi một cú đâm được tính điểm, trận đấu sẽ được bắt đầu lại và VĐV đứng ở vị trí chuẩn bị . Nếu cú đâm không được tính, trọng tài sẽ cho bắt đầu lại trận đấu ở vị trí hô "dừng" - Nếu VĐV đâm vào vùng không hợp lệ, trọng tài sẽ cho dừng trận đấu lại, và 2 VĐV bắt đầu lại trận đấu ở vị trí chuẩn bị. Riêng với kiếm bịt đầu và kiếm cong có một ngoại lệ. Nếu cú đâm trượt ra ngoài vùng hợp lệ do đối phương ở tư thế né tránh, cú đâm vẫn được tính điểm. - Nếu 2 VĐV kiếm 3 cạnh cùng thực hiện thành công một cú đâm, thời gian chêch lệch là 1/25 giây, đó được coi là một cú đúp và cả 2 cùng được tính điểm. Ở nội dung kiếm bịt đầu và kiếm cong, không có cách tính này. Nếu 2 cú đâm được thực hiện đồng thời, trọng tài không tính điểm hoặc chỉ tính cho người được hưởng ưu thế tấn công.
- Ưu thế tấn công:
Luật về ưu thế tấn công được đưa ra để giải quyết tình huống khi 2 VĐV cùng đâm trúng đối phương, ở nội dung kiếm bịt đầu và kiếm cong. Một kiếm thủ sẽ được hưởng ưu thế tấn công bằng cách dùng lưỡi kiếm của mình tấn công đối phương trước . - Ưu thế tấn công sẽ mất đi khi VĐV đâm trượt hoặc đường kiếm bị đối phương gạt ra - Sau khi chống lại đường đường kiếm đó, đối phương có thể phản công lại trước khi VĐV lấy lại tư thế. Điều này có nghiã đối phương đã thực hiện một lần tấn công mới và VĐV ban đầu lại tiếp tục được hư ởng ưu thế tấn công. - Thông thường khi tấn công vào mục tiêu hợp lệ, VĐ V ghi được điểm nếu đối phương không chống trả lại. - Khi chống trả thành công một pha tấn công của đối phương, tức là đợt tấn công của đối phương đã kết thúc, VĐV phải ngay lập tức kiểm soát kiếm của đối phương vì nếu để đối phương ti ếp tục tấn công và lưỡi kiếm vẫn đâm trúng mục tiêu thì đợt chống trả coi như không thành cô ng và ưu thế tấn công vẫn còn hiệu lực
- Luật "mũi đâm vàng": là trường hợp khi hết giờ thi đấu mà tỷ số của 2 bên bằng nhau thì trọng tài sẽ áp dụng luật mũi đâm vàng: bốc thăm quyền ưu tiên cho 1 trong 2 vận động viên bằng cách bấm đèn cho điểm của các VĐV, đèn dừng lại cho VĐV nào thì VĐV đó được quyền ưu tiên. Trong thời gian 1 phút, ai ghi được điểm trước thì chiến thắng. Nếu sau 1 phút, không có mũi đâm trúng đích từ 2 kiếm thủ, chiến thắng thuộc về VĐV được ưu tiên.
- Luật đấu kiếm cũng quy định các trường hợp bị cảnh cáo, phạt thẻ vàng, thậm chí trừ điểm tùy theo mức độ vi phạm của kiếm thủ. Sau khi ghi điểm hoặc chiến thắng, các kiếm thủ không được tung mặt nạ, giơ nắm đấm vào mặt đối phương hay có hành vi phản đối trọng tài, không tuân thủ quyết định của trọng tài
- Thời gian thi đấu
Cá nhân Mỗi trận đấu kéo dài trong 3 hiệp, mỗi hiệp 3 phút, thời gian nghỉ giữa hiệp là 1 phút. Kiếm thủ thắng cuộc là người đầu tiên thực hiện 15 cú đâm hợp lệ hoặc người có số lần đâm hợp lệ nhiều hơn khi trận đấu kết thúc. Trong trường hợp hoà, hai bên sẽ thi đấu thêm 1 hiệp kéo dài 1 phút, người thắng cuộc là người có cú đâm hợp lệ đầu tiên Đồng đội Một đội gồm 3 kiếm thủ. Đội thắng cuộc là bên thực hiện trước 45 lần cú đâm hợp lệ hoặc có số cú đâm hợp lệ nhiều hơn khi trận đấu kết thúc
V. VĐV tiêu biểu
- Trên thế giới
Pall Gerevich và Istvan, Karpathy (Hungaria) Cristiane D’Oriola và Edoardo Mangiarotti (Italia) .
- Hi Lạp
1896: Ioannis Georgiadis, HCV , kiếm cong 1896: Leonidas Pyrgos, HCV , training weapon 1896: Telemakhos Karakalas, HCB, kiếm cong
Thethao24h.vn
|
|
|
giá vàng
SMS : GV gửi 6224
| Loại |
Mua |
Bán |
| SJC |
43.690 |
44.010 |
Ngoại tệ
SMS : NT gửi 6224
| AUD |
22555.76 |
22691.91 |
23070.96 |
| CAD |
21438.45 |
21633.15 |
21994.52 |
| CHF |
24478.09 |
24650.64 |
25062.42 |
| DKK |
0 |
4049.58 |
4133.73 |
| EUR |
30144.16 |
30234.86 |
30678.49 |
| GBP |
34502.85 |
34746.07 |
35255.89 |
| HKD |
2767.76 |
2787.27 |
2845.19 |
| INR |
0 |
431.1 |
450.75 |
| JPY |
281.77 |
284.62 |
290.53 |
| KRW |
0 |
17.56 |
21.56 |
| KWD |
0 |
78782.46 |
80741.87 |
| MYR |
0 |
6932.07 |
7076.12 |
| NOK |
0 |
3921.59 |
4003.08 |
| RUB |
0 |
650.31 |
798.46 |
| SEK |
0 |
3310.21 |
3379 |
| SGD |
17011.66 |
17131.58 |
17487.57 |
| THB |
696.18 |
696.18 |
727.92 |
| USD |
20950 |
20950 |
20955 |
|